Lưu trữ

Archive for Tháng Mười Hai, 2007

Tổng hợp các thủ thuật đoạt quyền admin windows xp

Tháng Mười Hai 30, 2007 vuau 3 comments

Hiện nay có nhiều cách để phục hồi mật khẩu của tài khoản Administrator trong Windows bị quên mất. Có thể kể đến là dùng công cụ hỗ trợ của đĩa Hiren Boot để xóa trắng mật khẩu của tài khoản Administrator hay dùng các công cụ dò tìm mật khẩu trên Net. Tuy vậy, không phải lúc nào chúng ta cũng có công cụ để dùng. Nếu gặp những lúc như thế…. hãy lợi dụng lỗ hỏng của file sethc.exe trên Windows.

Giải thích thủ thuật này (cho các chuyên gia… thích suy nghĩ)

Trên Windows XP, nếu bạn nhấp phím Shift 5 lần, Windows sẽ gọi một chương trình nhỏ có tên là StickyKey. Đây là chương trình hỗ trợ người khuyết tật khi sử dụng Windows XP được đính kèm mặc đinh trong bộ tiện ích của Windows. Điều này có nghĩa là bạn có thể gọi chương trình này bằng phím tắt mà không cần đến giao diện thân thiện (1).

Nếu bạn đăng nhập bằng tài khoản có tên User1 và nhấp phím Shift 5 lần để gọi chương trình này, Windows sẽ lấy quyền của User1 để gọi chương trình StickyKey. Nếu bạn không đăng nhập vào bất kỳ một tài khoản nào mà gọi được StickyKey thì Widnows sẽ lấy quyên của hệ thống (System) để chạy StickyKey (2).

Từ giả định (1) và (2) trên, nếu bạn thay thế file thực thi của chương trình StickyKey (sethc.exe) bằng chương trình Command Run (cmd.exe) và gọi nó bằng 5 lần phím Shift mà không đăng nhập bằng tài khoản nào cả thì windows sẽ dùng quyền của Hệ thống (system) gọi file cmd.exe thay vì file sethc.exe. Thế là có thể làm bất cứ chuyện gì bằng tài khoản của cao nhất (quyền của Hệ thống) trên chương trình Command Run.

Bước 1: Vào windows với tài khoản User bình thường và nhấn 5 lần phím Shift để gọi thử chương trình StickyKey trên Windows và đóng nó lại (chỉ nhằm để xem thử).

Bước 2: Vào Start >> Run >> nhập vào Notepad và Enter để gọi chương trình Notepad.exe. Copy đoạn mã của mình viết, past vào notepad, Save lại với tên là Hackpass.bat

Code:

cd %systemroot%/system32
rename sethc.exe sethc.exe.bk
copy cmd.exe sethc.exe /y
Sau đó nhấp kép chuột lên file Hackpass.bat để thực thi!

Đoạn mã này làm các nhiệm vụ sau:

1. Sao lưu lại file sethc.exe bằng cách đặt lại tên là sethc.exe.bk

2. Thay thế file sethc.exe bằng file cmd.exe

Đến đây, bạn nhấp phím Shift 5 lần, nếu chương trình Command Run được gọi thay vì chương trình StickyKey thì bạn đã thành công!

Bước 3: Khởi động lại máy. Khi đến màn hình đăng nhập, bạn khoan hãy đăng nhập mà nhấn phím Shift 5 lần…… Lúc này chương trình Command Run xuất hiện, bạn nhập một trong những vào đoạn lệnh dưới đây

Xóa trắng password của Administrator:

Code:
net user Administrator
—- > nhấn phím Enter khi hoàn thành!

Thêm một tài khoản Admin với mật khẩu là 123
Code:
net user Admin 123 /add
—- > nhấn phím Enter khi hoàn thành!

Gán tài khoản Admin vào nhóm quản trị:
Code:
net localgroup Administrators Admin /add
—- > nhấn phím Enter khi hoàn thành!

Nếu bạn sử dụng đúng cấu trúc lệnh phía trên, bạn sẽ tạo được các tài khoản mới. Tại đây, bạn có thể đăng nhập vào các tài khoản mới mà không cần khởi động lại máy!

Cách đoạt quyền Admin trong Win 2000, 2003, XP
1. Cách đoạt quyền Admin trong Win2K :

- Trước hết bạn phải Download phần mềm NTFS4DOS về để tạo đĩa khởi động có thể nhìn được ổ đĩa có phân vùng NTFS .

- Sau khi Download về bạn tiến hành cài đặt và tạo đĩa mềm khởi động ( Chú ý : Trước khi tạo đĩa mềm khởi động có thể nhìn thấy phân vùng NTFS thì đĩa mềm của bạn phải được Format và là đĩa Boot có thể boot được từ DOS từ trước thì mới có thể dùng phần mềm NTFS4DOS để tạo đĩa mềm có thể nhìn được phân vùng NTFS từ DOS ) . Thế là xong bước tạo đĩa mềm boot .

- Tiếp theo bạn đến cái máy mà bạn muốn đoạt quyền Admin và vào CMOS của nó đặt First Boot là : Floppy Driver ( Nếu máy đó đặt password CMOS thì bạn có thể phá Pass CMOS bằng các phần mềm khác , tui xin miễn hướng dẫn phần này ) .

- Sau khi khởi động và Boot bằng đĩa mềm sẽ hiện ra 3 phần cho bạn chọn , bạn chọn cái đầu tiên là : NTFS4DOS . Sau đó bạn cứ để mặc cho nó chạy tiếp. Tiếp sau đó nó sẽ hiện ra một dòng thông báo hỏi bạn có muốn sử dụng tiện ích NTFS4DOS ko ? bạn đánh chữ yes và ấn Enter .
sau đó nó sẽ hiện ra dòng A:\> bạn chuyển sang ổ đĩa cứng là phân vùng chính cài Win ( Ở đây tôi sẽ lấy ví dụ là ổ C

A:\> C:

C:\> cd WINNT\SYSTEM32\CONFIG ( dùng lệnh cd để chuyển đến thư mục WINNT\SYSTEM32\CONFIG

Tiếp tục : Tại C:\>WINNT\SYSTEM32\CONFIG bạn đánh lệnh dir
C:\>WINNT\SYSTEM32\CONFIG\dir

Ta sẽ nhìn thấy file có tên là : SAM

Tiếp tục tại dấu nhắc lệnh : C:\>WINNT\SYSTEM32\CONFIG bạn đánh lệnh

C:\>WINNT\SYSTEM32\CONFIG\ren SAM DUNG

sau đó bạn đánh thử lại lệnh Dir để kiểm tra xem đã có file tên DUNG chưa ? Nếu có rồi thì đẫ thành công .

Chú ý : Tốt nhất là trước khi đánh lệnh ren SAM DUNG để đổi tên file SAM bạn lên backup nó trứơc :

C:\>WINNT\SYSTEM32\CONFIG\md Backup (Để tạo thư mục backup)

C:\>WINNT\SYSTEM32\CONFIG\copy SAM C:\>WINNT\SYSTEM32\CONFIG\BACKUP ( làm như vậy cho chắc ăn )

Sau đó bạn restart lại máy thế là OK , khi đăng nhập vào máy bạn chỉ cần gõ User là : Administrator còn Password thì không cần đánh chỉ việc gõ Enter .

2 . Cách đoạt quyền Admin trong WinXP :

- Cách làm thì tương tự như là ở trog Win2K , nhưng như các bạn đã biết nếu như chúng ta cũng đổi tên file SAM như ở trong WIN2K thì chắc chắn là WinXP sẽ bị lỗi và không thể nào vào được Win ( Sẽ bị Restart lại máy )
- Vậy thì làm cách nào có thể đoạt được quền Administrator bi giờ ? .
Có một cách và tui đã thử thành công , không biết các bạn đã đoán ra chưa nhỉ , nếu ai biết rùi thì thui nhé , tui post cho những người chưa biết .

- Đầu tiên tui cũng chưa biết làm thế nào, nhưng về sau tui đã đánh liều và thử một cách như sau :
+ Tui đến một máy cài WinXP khác , tui tạo Pass của user có tên là Administrator là trắng (Nghĩa là không đặt password , password bỏ trắng) , tui khởi động lại máy , sau đó tui vào DOS và copy lại cái file SAM ở cái máy mà tui vừa tạo với pass của User : Administrator (Đây là người có quyền quản trị cao nhất) là trắng vào thư mục BACKUP trong đĩa mềm của tui.
+ Sau đó tui sang cái máy cài WinXP mà tui muốn cướp quyền Admin ( Với pass của Administrator mà tui không biết )
+ và tui làm y như các bước như trên ( Chú ý : Trong WINXP thì không phải là thư mục WINNT như trong Win2K mà nó là thư mục WINDOWS) :

Sau khi khởi động và Boot bằng đĩa mềm sẽ hiện ra 3 phần cho bạn chọn , bạn chọn cái đầu tiên là : NTFS4DOS . Sau đó bạn cứ để mặc cho nó chạy tiếp. Tiếp sau đó nó sẽ hiện ra một dòng thông báo hỏi bạn có muốn sử dụng tiện ích NTFS4DOS ko ? bạn đánh chữ yes và ấn Enter .
sau đó nó sẽ hiện ra dòng A:\> bạn chuyển sang ổ đĩa cứng là phân vùng chính cài Win ( Ở đây tôi sẽ lấy ví dụ là ổ C
A:\> C:
C:\> cd WINDOWS\SYSTEM32\CONFIG ( dùng lệnh cd để chuyển đến thư mục WINDOWS\SYSTEM32\CONFIG
Tiếp tục : Tại C:\>WINDOWS\SYSTEM32\CONFIG bạn đánh lệnh dir
C:\>WINDOWS\SYSTEM32\CONFIG\dir
Ta sẽ nhìn thấy file có tên là : SAM
Tiếp tục tại dấu nhắc lệnh : C:\>WINDOWS\SYSTEM32\CONFIG bạn đánh lệnh
C:\>WINDOWS\SYSTEM32\CONFIG\ren SAM DUNG
sau đó bạn đánh thử lại lệnh Dir để kiểm tra xem đã có file tên DUNG chưa ? Nếu có rồi thì đẫ thành công .
Chú ý : Tốt nhất là trước khi đánh lệnh ren SAM DUNG để đổi tên file SAM bạn lên backup nó trứơc :
C:\>WINDOWS\SYSTEM32\CONFIG\md Backup (Để tạo thư mục backup)
C:\>WINDOWS\SYSTEM32\CONFIG\copy SAM C:\>WINDOWS\SYSTEM32\CONFIG\BACKUP ( làm như vậy cho chắc ăn )

- Tiếp theo từ C:\>WINDOWS\SYSTEM32\CONFIG tui đánh lệnh
C:\>WINDOWS\SYSTEM32\CONFIG A: để chuyển sang ổ mềm A
- Tại ổ A ta đánh lệnh A:\>cd Backup để vào thư mục BACKUP ở trong ở A .
- Tại A:\>BACKUP> ta đánh lệnh dir để kiểm tra xem đã thấy file SAM ở trong đó chưa A\BACKUP>dir
- Từ A\BACKUP\ ta đánh lệnh :
A\BACKUP\copy SAM C:\>WINDOWS\SYSTEM32\CONFIG (Chú ý : Trước khi đánh lệnh trên thì bạn phải chắc chắn là file SAM ở trong thư mục C:\>WINDOWS\SYSTEM32\CONFIG đã được đổi tên thành tên khác )
- Sau khi đánh lệnh trên xong nếu copy thành công bạn sẽ nhận được 1 thông báo là : 1 file copy … gì gì đó tui không nhớ lắm . Sau đó bạn khởi động lại máy và bỏ đĩa mềm ra .
- Khi đăng nhập vào máy bạn gõ user là Administrator và password là trắng bạn cứ việc gõ Enter thế là Okie giờ đây bạn đã là Người có quyền quản trị cao nhất.

3. Cách đoạt quyền Admin trong Win 2000 Server sử dụng Domain Controller :

Với thằng Win2kSrv DC này thì hơi rắc rối hơn một chút , vì máy sử dụng Win2kSrv DC thì pass Admin sẽ không lưu trong file SAM nữa , vì file SAM chỉ áp dụng cho Local mà thui . Trong Win2kSrv DC thì nếu như tui nhớ không nhầm thì nó nằm ở file gì đó có đuôi là .DIT thì phải ( Nếu tui nhớ không nhầm đó nha :-) ) )
Trước hết các bạn cũng làm các bước như trên :

Sau khi khởi động và Boot bằng đĩa mềm hoặc là đĩa CD sẽ hiện ra 3 phần cho bạn chọn , bạn chọn cái đầu tiên là : NTFS4DOS . Sau đó bạn cứ để mặc cho nó chạy tiếp. Tiếp sau đó nó sẽ hiện ra một dòng thông báo hỏi bạn có muốn sử dụng tiện ích NTFS4DOS ko ? bạn đánh chữ yes và ấn Enter .
sau đó nó sẽ hiện ra dòng A:\> bạn chuyển sang ổ đĩa cứng là phân vùng chính cài Win ( Ở đây tôi sẽ lấy ví dụ là ổ C
A:\> C:
C:\> cd WINNT\SYSTEM32\CONFIG ( dùng lệnh cd để chuyển đến thư mục WINNT\SYSTEM32\CONFIG
Tiếp tục : Tại C:\>WINNT\SYSTEM32\CONFIG bạn đánh lệnh dir
C:\>WINNT\SYSTEM32\CONFIG\dir
Ta sẽ nhìn thấy file có tên là : SAM
Tiếp tục tại dấu nhắc lệnh : C:\>WINNT\SYSTEM32\CONFIG bạn đánh lệnh
C:\>WINNT\SYSTEM32\CONFIG\ren SAM DUNG
sau đó bạn đánh thử lại lệnh Dir để kiểm tra xem đã có file tên DUNG chưa ? Nếu có rồi thì đẫ thành công .
Chú ý : Tốt nhất là trước khi đánh lệnh ren SAM DUNG để đổi tên file SAM bạn lên backup nó trứơc :
C:\>WINNT\SYSTEM32\CONFIG\md Backup (Để tạo thư mục backup)
C:\>WINNT\SYSTEM32\CONFIG\copy SAM C:\>WINNT\SYSTEM32\CONFIG\BACKUP ( làm như vậy cho chắc ăn )

Sau đó bạn Restart lại máy , sau khi máy khởi động lại bạn ấn phím F8 liên tục để vào chế đọ lựa chọn , sau khi ấn F8 sẽ có nhiều mục cho bạn lựa chọn , nhưng để hack được bạn phải chọn vào chế độ
“Directory Service Recovery Mode . . .”

Sau đó bạn sẽ vào được trong chế độ Safemode và máy sẽ yêu cầu bạn ấn tổ hợp phím CTRL-ALT-DEL và bạn đăng nhập vào máy với User là : Administrator và tất nhiên là Password sẽ không có rùi . Nhưng bạn đừng tưởng vậy là xong vì bạn có đổi Password kiểu gì đi nữa bạn cũng không đăng nhập được vào máy ở chế đọ hoạt động bình thường đâu vì cái mà bạn đặt chỉ là ở Local thui mà máy đó lại sử dung DC cơ .
Vì vậy để đoạt được quyền Admin của Win2kSrv DC tiếp bạn làm như sau :
- Bạn vào Start –> Run –> và gõ regedit .
Bạn sẽ truy cập vào được Registry Editor của Windows sau đó bạn tìm đên khóa sau :

HKEY_USERS\.Default\Control Panel\Desktop và bạn chỉnh các thông số tại đó như sau :
+ SCRNSAVE.EXE mặc định là logon.scr bạn nháy kép chuột vào nó thay đổi giá trị logon.scr thành cmd.exe
+ ScreenSaveTimeout mặc định là 900 bạn nháy kép chuột vào nó thay đổi giá trị 900 thành 10

+ ScreenSaveActive bạn thay đổi thành là 1 ( Nếu mặc định là 1 rồi thi thôi ko cần phải thay đổi gì cả )
Thế là Okie rùi và bạn Restart lại máy . Bạn để cho máy khởi động bình thường , khi bạn thấy hộp thoại yêu cầu ấn CTRL-ALT-DEL hiện ra, bạn đừng động gì vào nó cả hay chờ đợi 10 s –> 25 s ( Tốt nhất là từ đầu khi khơi động lại bạn đừng động gì vào nó )
- Sau khi chờ 10 –> 25 s bạn sẽ thấy màn hình command hiện ra.
Tại hộp thoại command này bạn đánh lệnh : DSA.MSC và bảng : Active Directory user and computer đã hiện ra sờ sờ trước mắt bạn kìa :-) ) bạn chỉ việc click vào folder user ở bên phải và bên trái hộp thoại sẽ hiện ra tất cả các user trong Domain và công việc bây giờ của bạn chỉ việc đổi Pass của Administrator hoặc bất cứ User nào mà bạn muốn bằng cách chuột phải vào user mà bạn muốn đổi password.
Bạn chọn set password và bạn nhập mật khẩu mới mà bạn muốn vào ( Giả sử là Administrator chẳng hạn vì đây là user có quyền tối cao nhất trong Domain ).

Sau đó bạn tắt cửa sổ Command Prompt đi ấn CTRL – ALT – DEL và giả sử user là : Administrator với password là : password mới mà bạn vừa tạo , và tất cả là của bạn hết đó . Chúc thành công
cách 2: Cách này chủ yếu dựa trên lệnh net user, đây là 1 lệnh command prompt có tác dụng tạo, xem, xóa và đổi pass cho 1 account với cú pháp net user <user name> <new pass>. Tuy nhiên, theo chế độ phân quyền của Windows thì chỉ “cấp trên” mới có quyền xử lí “cấp dưới” nên các account user sẽ không có thẩm quyền dùng lệnh này trên account admin, cho nên vấn đề của chúng ta ở đây là làm sao để có thể thực hiện lệnh này trong 1 môi trường “trung lập” đó chính là logon screen. Cách làm như sau:

Vào Start > Run (hay gõ Windows + R) > gõ cmd để khởi động command prompt. Tiếp theo chúng ta sẽ lần lượt gõ các lệnh sau:

cd \windows\system32 (chuyển vào system32)
mkdir backup (tạo thư mục backup)
copy logon.scr backup\logon.scr (chép file logon.scr vào thư mục backup)
copy cmd.exe backup\cmd.exe (chép file cmd.exe vào thư mục backup)
del logon.scr (xóa file logon.scr)
rename cmd.exe logon.scr (đổi tên file cmd.exe thành logon.scr)
exit

bây h thì mọi việc đã xong, chúng ta chỉ việc restart lại Windows tới logon screen và ngồi đợi vài phút tới khi “screen saver” hiện ra, mà lúc này đã biến thành khung command prompt để bạn có thể sử dụng câu lệnh net user ở trên.

Categories: Uncategorized

Học tiếng Anh với google

Tháng Mười Hai 23, 2007 vuau 1 comment

 

Học tiếng Anh với Google
 
 
Google Translate, một trong những công cụ trực tuyến hỗ trợ chuyển đổi ngôn ngữ có độ chính xác cao. Bài viết dưới đây tham khảo từ Trung tâm ngôn ngữ thuộc Đại học Stanford viết về cách sử dụng Google để nâng cao khả năng viết tiếng Anh.

Tự biên tập khi học viết: Viết là một kỹ năng rất khó đòi hỏi sự kiên trì và luyện tập thường xuyên. Sau khi hoàn thành một bài viết, bạn muốn biết bạn mắc lỗi ngữ pháp hay cách chọn từ 01.gifở đâu. Cách thứ nhất, bạn gửi đến thầy cô giáo hướng dẫn của mình, như thế ai đó đã làm giúp bạn chỉnh sửa lại bài viết rồi. Một lựa chọn khác, khi bạn phải tự mình biên tập lại, hãy nhớ đến Google như một người bạn luôn sát cánh bên bạn đấy!

Ví dụ, giả sử rằng khi bạn vừa hoàn thành xong bài viết, trong đó có một câu mà bạn cảm thấy chưa chắc chắn: “In the first part I discuss the Einstein’s theory.” (Trong phần đầu tiên, tôi bàn về thuyết Einstein)

Bây giờ chúng ta băn khoăn không biết có phải là:

 

  1. “in first part” hay là “in a first part” hay “in the first part”?
  2. “I discuss” hay “I will discuss”?
  3. “the Einstein’s theory” hay “Einstein’s theory”

Chúng ta sẽ thử kiểm tra qua Google nhé!

  • “in first part” – 52.000
  • “in a first part” – 114.000
  • “in the first part” – 1.210.000

Các con số kết quả tìm được đều rất lớn chứng tỏ việc sử dụng phổ biến những cụm từ này khi viết. Tuy nhiên, trong số đó “in the first part” rõ ràng có mức phổ biến lớn hơn rất nhiều hai trường hợp còn lại.

Thêm nữa, để giúp bạn tự tin hơn về quyết định có chọn cách viết “in the first part” hay không, hãy click chuột vào phiên bản “cached” trong trang kết quả tìm được. Khi đó, bạn có thể xác nhận thêm rằng nguồn tài liệu đó từ đâu đến, và cụ thể hơn là cụm từ bạn tìm kiếm sẽ được tô đậm trong trang đó. Như thế, bạn sẽ có cơ sở để tin tưởng rằng cách dùng như vậy là hợp lý và chính xác nhất.

Trong trường hợp thứ hai, câu hỏi được đặt ra là bạn nên dùng thì tương lai “will” hay không?

  • “I discuss” – 1.240.000
  • “I will discuss” – 1.060.000

Ồ, trong trường hợp này, thật khó để nói. Vậy ta phải làm sao? Bạn có thể tìm kiếm kết qủa cho cả cụm từ:

  • “In the first part I discuss” – 3.530
  • “In the first part I will discuss” – 6.090

Dựa vào kết quả bổ sung này, các bạn có thể tin tưởng hơn với cách dùng thứ hai vì lượng kết quả tìm được gần gấp đôi.

Đến trường hợp thứ 3: Bạn có nên dùng chữ mạo từ “the” hay không?

  • “the Einstein’s theory” – 1.960
  • “Einstein’s theory” – 475.000

Dựa vào sự chênh lệch qúa lớn này, bạn có thể tự tin rằng cách viết thứ hai là chính xác. Đồng thời, từ đây, bạn cũng có thể rút ra một quy luật chung cho những cấu trúc tương tự

Lý giải kết qủa tìm được:

Một điều thú vị là nếu bạn thử tìm qua Google với những từ và cấu trúc câu mà theo các cuốn sách ngữ pháp tiếng Anh cơ bản thì “là sai ngữ pháp”, thế nhưng Google vẫn tìm thấy.

Ví dụ tìm “I be happy” (cấu trúc câu đúng là “I am happy”) bạn có thể sẽ ngạc nhiên vì số lượng kết qủa là 155.000 lượt. Trong đó, những kết qủa liệt kê lên đầu tiên sẽ là “Will I be happy”, “How can I be happy”, “Should I be happy” và những cấu trúc tương tự. Có thể chúng là những trường hợp mà cách sử dụng “ I be happy” được chấp nhận, nhưng bạn không có đủ thời gian để lướt qua hàng trăm trang web để tìm ra đâu là cách sử dụng đúng.

Để tránh trường hợp này, bạn có thể thêm vào một từ, hoặc một cụm từ để “bắt” cụm từ bạn đang kiểm tra trở thành phần đầu tiên của một câu. Bạn thêm vào cụm từ “I said” nhé rồi tìm kiếm cả cụm từ: (sau đó, bạn có thể tự mình kiểm tra bằng cách thêm cụm từ khác, ví dụ “I know” chẳng hạn)

  • “I said I be happy” – 2
  • “I said I am happy” – 516

Sự chênh lệch lớn này sẽ giúp bạn có quyết định lựa chọn của mình.

Còn trong trường hợp nhầm lẫn giữa danh từ đếm được và danh từ không đếm được thì sao?google.jpg Đây là điểm khá thú vị. Lấy ví dụ với từ “equipment”. Đây là một danh từ không đếm được nên dạng số nhiều của nó “equipments” là không hợp lý. Thế nhưng khi bạn thử tìm trên Google thì kết quả như sau:   

  • “equipment” – 542.000.000
  • “equipments” – 14.000.000

14.000.000 kết qủa cho “equipments”! Đó cũng là một con số rất lớn! Tuy nhiên nếu bạn vào phần “Cached” sẽ thấy 4 kết qủa đầu tiên là những trang web từ Trung Quốc, Đài Loan và Ấn Độ, kết qủa thứ 5 là từ Canada. Như thế ta có thể suy đoán rằng “equipments” có lẽ được chấp nhận trong tiếng Anh của người Ấn. Nhưng nếu bạn là người học Anh ngữ của người Anh hay người Mỹ thì đừng dùng như vậy nhé!

Ngoài ra, Google còn giúp chúng ta nhiều chức năng ngôn ngữ khác như tra từ điển; giúp những dịch giả chuyên nghiệp kiểm tra và sáng tạo ra những khái niệm tương đương giữa hai nền văn hóa khác nhau qua việc tìm kiếm bằng hình ảnh và nhiều chức năng khác nữa.

Và để kết thúc bài viết này, tôi cũng xin nhắc lại một lần nữa Google không thể giúp bạn làm được tất cả. Tính chính xác về ngôn ngữ của Google chỉ là  tương đối. Bạn vẫn cần phải kết hợp với những cuốn sách giáo khoa Anh ngữ chính thống. Chúc các bạn thành công trong qúa trình học tiếng Anh của mình.

Theo Nguyễn Thế Vinh – Tuổi trẻ

Categories: Uncategorized

Hacker, những người vĩ đại

Tháng Mười Hai 21, 2007 vuau 1 comment
Hacker – Những người vĩ đại
  Hacker - Những người vĩ đại
magnify

Chắc chắn một dự án phần mềm không thể thành công nếu không có những siêu sao lập trình thích hợp. Paul Graham gọi họ là hacker, và tìm hiểu những điểm chung họ có.

Khi bài viết này lần đầu được công bố, nó đã gây tranh cãi dữ dội, chủ yếu vì Paul ngụ ý rằng lập trình viên Java và Windows không thể là hacker giỏi. Tôi rất không đồng ý với điều đó; tôi đoán Paul không biết những người tôi biết. Những hacker giỏi mà tôi biết cũng là những sinh viên thông minh nhất và học những trường hàng đầu, nơi họ học Unix, thứ mà họ có có khuynh hướng muốn biết thật rõ.

Rất nhiều người sử dụng Visual Basic hay Java vì họ không phải là hacker giỏi và những ngôn ngữ đó cho phép người bình thường viết được chương trình một cách dễ dàng. Những hacker thật sự giỏi không kén công cụ, họ sử dụng bất kì công cụ nào có trong tay để giải quyết vấn đề. Tôi ấn tượng với những người làm được việc môi trường lập trình thậm tệ, hơn hẳn với những người từ chối làm việc chỉ vì vấn đề không thể giải quyết bằng Python.

Dù sao, đừng để điều đó làm sao nhãng sự chú ý của bạn tới bài viết của một trong những tay bút xuất sắc nhất về công nghệ phần mềm hiện nay.

— oOo —

Vài tháng trước tôi hoàn thành xong quyển sách mới, và trong các bài bình luận tôi thấy rất nhiều từ “khiêu khích” và “gây tranh cãi”. Tôi đâu muốn sách đó gây tranh cãi. Tôi chỉ muốn nó hiệu quả. Tôi không muốn người khác mất thì giờ nghe những điều họ đã biết. Trình bày sự khác nhau thì hiệu quả hơn.

Edison

Đây là ý tưởng gây tranh cãi nhất: sự phân hóa giàu nghèo không phải là vấn đề nghiêm trọng.

Trong sách tôi không nói sự phân hóa giàu nghèo là điều tốt. Tôi nói trong một số trường hợp nó có thể là dấu hiệu tốt. Đau đầu không phải là điều tốt, nhưng nó có thể là dấu hiệu tốt — ví dụ, bạn hồi phục sau khi hôn mê vì bị đánh vào đầu.

Sự khác biệt giàu nghèo có thể là dấu hiệu của khác biệt trong năng suất. Và đó chắc chắn là điều tốt: nếu xã hội không có khác biệt năng suất, có thể không phải bởi vì là mọi người đều là Thomas Edison. Có lẽ là bởi vì chẳng có Thomas Edison nào cả.

Trong xã hội có nền kĩ thuật kém, năng suất không khác biệt. Khi những người trong bộ lạc du mục đi nhặt củi, có sự khác biệt đáng kể nào giữa số củi nhặt được của người giỏi nhất và người giỏi kém không? Gấp đôi? Trong khi đó nếu có công cụ phức tạp như máy tính, sự khác biệt khi người ta tạo ra được có thể rất lớn.

Ý tưởng đó không mới. Fred Brooks viết về nó năm 1974, và nghiên cứu ông ta trích dẫn được xuất bản năm 1968. Nhưng tôi nghĩ ông đã đánh giá thấp sự khác biệt giữa những lập trình viên. Ông viết về năng suất tính bằng số dòng lệnh: những lập trình viên giỏi nhất có thể giải vấn đề trong 1/10 thời gian. Nhưng nếu vấn đề không được cho trước? Trong lập trình, cũng như trong nhiều lãnh vực, cái khó không phải nằm ở chỗ giải quyết vấn đề, mà ở chỗ quyết định phải giải quyết vấn đề nào. Trí tưởng tượng thì khó có thể đo lường, nhưng trong thực tế nó quyết định loại năng suất được đo lường bởi số dòng lệnh.

Năng suất thay đổi tùy lãnh vực, nhưng có vài lãnh vực nó thay đổi rất lớn. Sự khác biệt giữa các lập trình viên lớn đến nỗi nó trở thành một loại đặc biệt. Dù vậy tôi không nghĩ nó chỉ có ở lập trình. Trong mọi lãnh vực, công nghệ phóng đại sự khác biệt lớn trong năng suất. Tôi nghĩ có sự khác biệt lớn trong lập trình đơn giản vì nó có quá nhiều đòn bẩy công nghệ. Nhưng trong mọi lãnh vực đòn bẩy đang dài ra, do đó sự khác biệt chúng ta đang thấy sẽ được thấy trong các lãnh vực khác trong thời gian tới. Và sự thành công của công ty, đất nước sẽ ngày càng phụ thuộc vào việc chúng ta ứng xử thế nào với nó.

Nếu sự khác biệt năng suất tăng theo công nghệ, thì cống hiến của những cá nhân có sản lượng cao nhất sẽ không những rất lớn mà còn tăng theo thời gian. Khi đạt đến mức 90% sản phẩm của nhóm được tạo bởi 1% thành viên, thì bạn sẽ mất mát rất lớn nếu cái gì đó kéo năng suất của 1% đó xuống mức trung bình.

Nếu muốn thu được nhiều từ họ, ta cần hiểu những người có năng suất đặc biệt này.

  • Động lực của họ là gì??
  • Họ cần gì để làm việc??
  • Làm thế nào để nhận ra họ??
  • Làm sao để mời họ làm việc cho bạn??
  • Và tất nhiên, làm thế nào để trở thành người như họ??

Trên cả tiền bạc

Tôi biết vài siêu hacker, tôi đã thử nghĩ xem họ giống nhau ở điểm nào. Điều dễ nhận thấy là họ thật sư thích lập trình. Lập trình viên bình thường làm việc vì cơm áo. Hacker vĩ đại nghĩ họ làm việc vì thú vui, và tiền chỉ là hệ quả của sản phẩm họ tạo ra.

Người ta thỉnh thoảng nói hacker vĩ đại không quan tâm đến tiền. Điều này không hẳn chính xác. Điều chính xác là họ chỉ quan tâm đến những công việc thú vị. Nhưng nếu đã có đủ tiền, thì bạn làm việc vì ý thích, và vì lí do đó hacker bị thu hút bởi ý tưởng kiếm thật nhiều tiền. Nhưng miễn là họ còn phải đến công ty hàng ngày, thì họ quan tâm đến công việc hơn là tiền bạc.

Về mặt kinh tế, đây là điều quan trọng nhất, vì nó có nghĩa bạn không cần phải trả tiền theo đúng giá trị của họ. Lập trình viên vĩ đại có thể có năng suất gấp 10 lập trình viên bình thường, nhưng anh ta sẽ nghĩ là mình may mắn khi được trả lương cao gấp 3 lần. Tôi sẽ giải thích sau, một phần cũng bởi hacker vĩ đại không biết họ siêu đến mức nào. Nhưng cũng bởi tiền không phải là cái chính yếu họ muốn.

Hacker muốn gì?? Như tất cả các thợ thủ công, hacker thích công cụ tốt. Thật ra còn hơn thế. Hacker xịn không chịu đựng nổi công cụ tồi. Họ sẽ từ chối ngay nếu phải làm project với hạ tầng cơ sở không đúng.

Việc quyết định hạ tầng cơ sở cho project không chỉ mang ý nghĩa kĩ thuật. Nó còn mang ý nghĩa xã hội, và đây có thể là cái quan trọng hơn trong 2 cái. Ví dụ, nếu công ty bạn muốn viết phần mềm gì đó, có lẽ Java là lựa chọn thận trọng. Nhưng chọn ngôn ngữ cũng chính là chọn cộng đồng. Lập trình viên Java không thông minh như lập trình viên Python. Và chất lượng của lập trình viên có thể quan trọng hơn ngôn ngữ được chọn. Tuy vậy, nói trắng ra, việc lập trình giỏi thích Python hơn Java chẳng đã nói cho bạn biết ngôn ngữ nào tốt hơn.

Giới business thích ngôn ngữ phổ biến hơn bởi vì theo cách nhìn của họ thì ngôn ngữ là chuẩn. Họ không muốn công ty chịu rủi ro. Tuy vậy, cốt lõi vấn đề nằm ở chỗ ngôn ngữ không chỉ là chuẩn. Nếu muốn truyền dữ liệu, hãy dùng TCP/IP. Nhưng ngôn ngữ lập trình không chỉ là định dạng. Ngôn ngữ lập trình là môi trường để diễn tả.

Java đã soán ngôi Cobol. Nếu chỉ là chuẩn, còn mong gì hơn? Nhưng là môi trường để diễn tả, bạn có thể làm tốt hơn nhiều. Trong số tất cả những lập trình viên vĩ đại tôi biết, chỉ có mỗi một người xung phong lập trình bằng Java, người này làm cho SunLaughing.

Hacker vĩ đại cũng thường nhấn mạnh việc dùng phần mềm mã nguồn mở. Không chỉ vì chúng tốt hơn, mà vì họ có thể điều khiển chúng tốt hơn. Hacker giỏi nhấn mạnh việc điều khiển. Điều đó góp phần đào tạo họ thành hacker giỏi: khi có gì không ổn, họ có source để sửa. Bạn cần làm cho họ cảm giác theo cách như vậy về phần mềm họ viết cho bạn. Bạn không nên ngạc nhiên khi họ cảm giác theo cách như vậy về hệ điều hành.

Vài năm trước bạn tôi, một nhà đầu tư mạo hiểm, kể về công ty anh mới giúp thành lập. Nghe rất hứa hẹn. Nhưng lần nói chuyện tiếp theo, anh nói công ty đã quyết định chuyên về phần mềm cho Windows NT, và vừa thuê một lập trình viên rất kinh nghiệm về NT làm lãnh đạo kĩ thuật. Khi nghe chuyện này, tôi nghĩ, mấy tay này tới số rồi. Thứ nhất, CTO đó không thể là hacker giỏi, vì để trở thành lập trình viên NT xuất sắc anh ta phải xung phong sử dụng NT nhiều, và tôi không thể tưởng tượng hacker vĩ đại lại đi làm chuyện này; và thứ hai, ngay cả khi anh ta giỏi, cũng khó tuyển được người giỏi vào làm việc nếu project xây dựng trên NT. (Đúng là họ tới số thật. Họ đóng cửa sau đó vài tháng.)

Ranh giới cuối cùng

Sau phần mềm, công cụ quan trọng nhất đối với hacker có lẽ là văn phòng. Các công ty lớn nghĩ chức năng của văn phòng là thể hiện cấp bậc. Nhưng hacker dùng văn phòng hơn thế: họ dùng văn phòng làm nơi suy nghĩ. Và nếu bạn là công ty kĩ thuật, suy nghĩ của họ là sản phẩm của bạn. Do đó bắt hacker làm việc trong môi trường ồn ào dễ phân tâm giống như việc có nhà máy sản xuất sơn mà không khí toàn bụi bồ hóng.

Truyện tranh Dilbert nói nhiều về ngăn làm việc, tất nhiên có lí do. Tất cả hacker tôi biết đều ghét ngăn làm việc. Viễn cảnh bị làm phiền không thôi cũng đủ ngăn hacker làm việc. Nếu bạn muốn công việc được giải quyết với văn phòng có ngăn làm việc, có 2 lựa chọn: làm việc ở nhà, hoặc đến sớm hoặc muộn hoặc vào cuối tuần, khi không có ai. Đây chẳng phải là dấu hiệu cho thấy công ty rạn nứt? Văn phòng cần phải là nơi mọi người làm việc thoải mái không miễn cưỡng.

Những công ty như Cisco tự hào là ai cũng có ngăn làm việc, ngay cả CEO. Nhưng họ không giỏi như họ nghĩ, cụ thể là họ vẫn còn coi văn phòng là thứ để thể hiện cấp bậc. Cũng nên nhớ là Cisco nổi tiếng bởi có rất ít sản phẩm tự họ phát triển. Họ có được kỹ thuật mới là nhờ việc mua lại những công ty đã tạo ra nó. Điều này có nghĩa là các hacker đã có một nơi kín đáo nào đó để làm việc.

Có một công ty hiểu được thứ các hacker cần, đó là Microsoft. Tôi đã một lần nhìn thấy tờ quảng cáo tuyển dụng của Microsoft với hình ảnh một cánh cửa lớn trên đó. Ngụ ý của nó là hãy làm việc cho chúng tôi, chúng tôi sẽ tạo cho anh một nơi để anh có thể thực sự làm việc. Và bạn biết đấy, trong số các công ty lớn, Microsoft có tiếng là có khả năng tự phát triển phần mềm. Có thể là chúng chưa tốt lắm, nhưng cũng dùng được.

Nếu công ty muốn các hacker làm việc năng suất, hãy xem cách mà họ làm việc tại nhà. Ở nhà, họ có thể sắp xếp mọi thứ theo ý mình, nhờ đó đạt hiệu quả cao nhất. Họ không làm ở một nơi ồn ào, mở rộng, mà họ làm việc trong những căn phòng đóng kín cửa. Họ làm ở những nơi thoải mái, có hàng xóm xung quanh, có một nơi nào đó để nói chuyện khi họ cần suy nghĩ về một vấn đề gì đó, chứ không phải những ngăn kính của những khoanh trong bãi đỗ xe. Họ có ghế bành để ngả lưng khi mệt, thay vì cứ phải lờ đờ bên bàn làm việc và phải cố gắng tập trung vào công việc. không có những đám đông với những chiếc máy hút bụi kêu ầm ĩ hàng chiều vào giờ làm việc hiệu quả nhất. Không có họp hành, không có thay đổi định hướng công ty, không có bài tập xây dựng nhóm. Và khi nhìn vào những gì họ làm trên máy tính, bạn sẽ thấy nó củng cố thêm cho những gì tôi nói về công cụ làm việc ở phần trên. Ở công ty, họ có thể bắt buộc phải dùng Java và Windows, nhưng ở nhà thì khác, họ có thể dùng gì tùy thích, và bạn có thể thấy nhiều người dùng Perl và Linux.

Thực sự thì những thống kê nói rằng Cobol và Java là những ngôn ngữ thông dụng nhất có thể gây hiểu lầm. Nếu muốn biết cái gì là tốt nhất, chúng ta cần nhìn vào thứ mà hacker chọn khi họ được chọn một cách tự do, đó là trong những dự án của riêng họ. Khi bạn hỏi câu đó, bạn sẽ thấy là hệ điều hành mã nguồn mở đã nắm trong tay thị phần khá quan trọng, và ngôn ngữ được ưa chuộng nhất là Perl.

Thú vị

Khi có trong tay những công cụ tốt, hacker muốn làm những dự án thú vị. Yếu tố nào làm cho dự án trở nên thú vị? Rõ ràng là những dự án màu mỡ như là máy bay tàng hình hay phần mềm có những hiệu ứng đặc biệt rất hấp dẫn. Nhưng thực tế là mọi dự án đều có thể trở nên thú vị nếu nó có những thách thức kỹ thuật mới. Vì vậy, khó có thể nói trước rằng hacker sẽ thích những vấn đề nào, bởi vì có những vấn đề chỉ trở nên thú vị khi những người làm việc với nó phát hiện ra cách giải quyết mới. Trước ITA (người viết phần mềm trong Orbitz), những người viết ứng dụng tìm kiếm vé máy bay vẫn nghĩ đây là một trong những ứng dụng nhàm chán nhất mà con người ta có thể tưởng tượng ra. Nhưng ITA đã làm cho nó trở nên thú vị bằng cách định nghĩa lại vấn đề một cách hào hứng hơn.

Tôi nghĩ ở Google cũng vậy. Khi Google thành lập, người ta vẫn cho rằng tìm kiếm thật nhàm chán và vô nghĩa. Nhưng những chàng trai ở Google không nghĩ như thế, và vì vậy họ đã thành công.

Đây là đất dựng võ cho các nhà quản lý. Giống như ông bố bảo con: bố cuộc là con không thể dọn dẹp nhà trong vòng 10 phút được, người quản lý giỏi đặt lại vấn đề một cách thú vị hơn. Steve Jobs có vẻ rất giỏi trong chuyện này, chỉ đơn giản bằng cách đặt ra tiêu chuẩn cao hơn. Trước khi Mac ra đời, có rất nhiều máy tính nhỏ gọn và vừa túi tiền. Nhưng Steve Jobs đã định nghĩa lại vấn đề là: tạo ra một cái máy thật đẹp. Điều này đã làm cho những người phát triển vất vả rất nhiều.

Và không nghi ngờ gì nữa, họ đã hoàn thành nhiệm vụ. Khi Mac lần đàu xuất hiện, bạn không cần phải bật máy lên cũng biết nó tuyệt thế nào, bạn có thể thấy thế từ cái vỏ máy trở đi. Vài tuần trước, khi tôi đi ngang qua con phố trong Cambrigde, tôi thấy trong sọt rác của ai đó có cái gì có vẻ như là vỏ đựng của một chiếc Mac. Tôi nhìn vào trong, đó là một con Mac SE. Tôi mang về nhà, cắm điện vào, và nó đã khởi động. Giao diện Macintosh, rồi chương trình Finder. Lạy chúa, thật là đơn giản. Đơn giản như… Google vậy.

Hacker muốn làm việc với người đặt ra tiêu chuẩn cao. Nhưng chính xác không thôi thì chưa đủ. Bạn phải biết bảo vệ những cái mình cho là đúng nữa. Điều này có nghĩa bạn cũng phải là một hacker. Thỉnh thoảng tôi thấy có những bài viết về cách quản lý lập trình viên. Có thể chia ra làm 2 loại bài viết: một dành cho người cũng là lập trình viên, và một cho những người không phải lập trình viên. Trường hợp thứ 2 thì có thể gói gọn trong 2 từ: đầu hàng.

Vấn đề không nằm ở việc quản lý hàng ngày. Hacker thực sự giỏi tự quản được mình. Vấn đề nằm ở chỗ, nếu không phải là hacker, thì bạn không thể biết ai là hacker giỏi. Vấn đề tương tự giải thích vì sao xe Mỹ lại xấu đến thế. Tôi gọi nó là nghịch lý trong thiết kế. Có thể bạn nghĩ chỉ việc thuê designer giỏi là có thể làm cho sản phẩm đẹp ra. Nhưng nếu không có mắt thẩm mỹ thì làm sao bạn có thể nhận ra designer là giỏi được? Về bản chất không thể biết designer giỏi hay không qua portfolio của người ấy. Và cũng không thể dựa vào những giải thưởng mà người ấy giành được hay công việc người ấy đã làm, bởi trong ngành design, cũng như trong hầu hết các ngành, những cái đó thứ nhất do thị hiếu, thứ 2 do vận động hành lang, thứ 3 mới đến tài năng thực sự. Chẳng có cách nào khác cả: không thể quản lý qui trình tạo ra sản phẩm đẹp mà không biết thế nào là đẹp. Xe Mỹ xấu vì các nhà điều hành các công ty sản xuất xe của Mỹ không có mắt thẩm mỹ. (Mỹ mà xấu Laughing)

Nhiều người Mỹ cho rằng khả năng cảm thụ cái đẹp là một thứ gì đó khó đạt tới, hoặc thậm chí là nhảm nhí. Hòan toàn không phải thế. Để lèo lái việc thiết kế, người quản lí phải là người dùng khó tính nhất đối với sản phẩm của công ty. Và nếu thực sự có khiếu thẩm mỹ, bạn hoàn toàn có thể, như Steve Jobs, làm mọi người thỏa mãn bằng cách biến mình thành vấn đề mà nhân viên thích giải quyết.

Các vấn đề vụn vặt

Không khó để kể ra vấn đề nào là không thú vị: đó là khi thay vì phải giải quyết một vài vấn đề lớn nhưng rõ ràng, bạn phải giải quyết hàng loạt các thứ lẻ tẻ, vụn vặt. Một trong những loại dự án buồn chán nhất là viết giao diện cho một chương trình đầy lỗi. Hay là khi bạn phải điều chỉnh một client với những yêu cầu rắc rối và chẳng có gì rõ ràng.

Bạn chẳng học được gì khi giải quyết những vấn đề vụn vặt. Viết một trình dịch (compiler) thú vị vì qua đó bạn học dược trình dịch là gì. Nhưng viết giao diện cho một chương trình toàn lỗi thì bạn chẳng học được gì. Vì lỗi là bất định. Những hacker giỏi luôn tránh những vấn đề vụn vặt vì nó dễ chán. Đó còn là bản năng tự nhiên. Làm việc với những vấn đề vụn vặt khiến bạn dốt đi. Lí do khiến hacker giỏi tránh những vấn đề vụn vặt cũng giống như lí do khiến các người mẫu tránh món hamburger có bơ vậy.

Nếu công ty nào đó khiến các hacker giải quyết các vấn đề tẻ nhạt, họ hẳn sẽ rất thành công. Vậy họ làm thế nào ?

Lúc thành lập, chúng tôi có Robert Morris làm việc ở vị trí quản trị hệ thống. Điều này chẳng khác gì việc band Rolling Stones chơi ở buổi lễ Bar Mizvah của người Do Thái. Bạn không thể thuê được những người như vậy. Nhưng một người có thể làm việc như trâu ngựa cho những gì họ làm chủ.

Các công ty lớn giải quyết vấn đề bằng cách chia nhỏ công ty. Họ để cho những người giỏi làm việc cho chính họ bằng cách thành lập các trung tâm R&D, nơi mà họ không phải giải quyết các vấn đề vụn vặt. Các trung tâm R&D này như những khu mỏ sản sinh ra các ý tưởng để phần còn lại của công ty có thể sử dụng được.

Bạn cũng có thể làm như sau. Cách lập trình từ dưới lên (bottom-up) gợi ý một cách khác để chia nhỏ công ty: để cho những người giỏi làm việc như những toolmaker (những người làm ra công cụ). Nếu công ty của bạn sản xuất phần mềm thực hiện công việc X, hãy giảnh ra một nhóm viết công cụ để sản xuất phần mềm đó, và nhóm khác sử dụng các công cụ đó để sản xuất phần mềm. Với cách này, bạn có thể khiến những người giỏi viết đến 99% code, mà vẫn khiến họ cô lập được với các vấn đề vụn vặt của user. Các toolmaker vẫn có thể có người dùng, nhưng đó nên là những người thuộc công ty.

Nếu Microsoft sử dụng giải pháp này, các sản phẩm của họ có lẽ sẽ không đầy những lỗ hổng bảo mật như bây giờ. Bởi vì những lập trình viên bình thường sẽ không để ý đến các vấn đề ở cấp thấp (low-level) như cấp phát bộ nhớ (memory-allocating). Thay vì viết Word trực tiếp bằng C, họ nên ghép các khối chương trình bằng ngôn ngữ Word (Word-language) chẳng hạn.

Tụ tập

Bên cạnh cách vấn đề thú vị, các hacker giỏi còn thích tụ tập với nhau – như trường hợp ấn tượng của Xerox Parc.

Người chiến thằng có được tất cả.Tại một thời điểm, chỉ có tầm mười hay hai mươi chỗ có thể hấp dẫn các hacker. Và nếu chỗ của bạn không nằm trong số đó, không phải bạn sẽ có ít hacker hơn, mà là bạn không có ai cả.

Có trong tay các hacker giỏi chưa đủ để công ty bạn thành công. Google và ITA đã thành công. Nhưng Thinking Machines hay Xerox thì không. Sun cũng đã thành công nhưng mô hình kinh doanh của họ lại tụt dốc. Trong những trường hợp như vậy, kể cả hacker giỏi nhất cũng không giúp gì được.

Dù vậy, tôi nghĩ, những công ty thu hút được nhiều hacker giỏi vẫn có những lợi thế rất lớn. Nhiều người không đồng ý. Những năm 1990, Khi chúng tôi đi thăm các công ty đầu tư mạo hiểm, một số nói rằng các công ty phần mềm giành chiến thắng không phải nhờ viết những phần mềm tuyệt hay mà là nhờ thương hiệu, các kênh điều phối và tuân thủ hợp đồng.

Tôi không biết tại sao họ lại thực sự tin tưởng vào điều này. Tôi nghĩ điều mà các công ty đầu tư mạo hiểm đó tìm kiếm, ít nhất là trong vô thức, là một Microsoft tiếp theo. Và nếu Microsoft là hình mẫu của anh, anh không cần phải phải tìm kiếm những công ty muốn chiến thằng nhờ những phần mềm tốt. Nhưng họ đã thất bại trong việc tìm ra một Microsoft thứ hai. Bời vì không có công ty nào có thể trở thành một Microsoft thứ hai, trừ phi cùng thời điểm đó, có một công ty được thành lập để trở thành IBM thứ hai.

Microsoft không phải là hình mẫu để đi tìm. Thứ mà các công ty đầu tư mạo hiểm nên kiếm tìm, là những công ty Apple thứ hai, Google thứ hai..

Tôi nghĩ Bill Gates biết điều này. Điều khiến Bill lo lắng không phải là sức mạnh thương hiệu của Google, mà là việc Google có những hacker giỏi hơn.

Nhận diện

Vậy những hacker giỏi ở đâu? Làm sao nhận ra khi đối mặt với anh ta? Đây hóa ra lại là vấn đề khó. Ngay cả các hacker cũng không biết.Giờ thì tôi chắc chắn Trevor Blackwell bạn tôi là một hacker xịn. Một mình anh ta viết Segway bằng Python trong một ngày. Nhưng khi tôi gặp Trevor, tôi đã nghĩ anh ta là một gã ngốc.Lần đầu tôi gặp là lúc anh ta đang ở phòng của Robert Morris và đang tranh cãi về một vấn đề gì đó. Tôi nhớ là tôi đã ra dấu cho Robert với thông điệp “hãy đuổi gã ngốc này đi và ra ngoài ăn trưa với tôi”. Robert cũng không khá hơn. Anh gặp Morris với những thẻ có ghi chú về cuộc đời anh ta cùng với cách phát âm Canadia đầy khó chịu.

Thật khó để nhận ra một hacker, ngay cả đối với tôi bầy giờ. Bạn cũng không thể nhận ra họ thông qua bản resume. Có vẻ như cách duy nhất để nhận diện một hacker là làm việc với họ. Đây là lí do tại sao các viện nghiên cứu high-tech, các công ty mới thành lập đều ở xung quanh các trường đại học. Vì ở đây, các sinh viên giỏi làm việc với nhau. Để rồi cùng nhau tạo ra những project riêng của họ.

Bạn không thể nhận ra một hacker trừ phi làm việc với họ. Nhưng các hacker cũng chẳng biết mình giỏi cỡ nào vì thật khó để so sánh. Hack giống như viết lách vậy. Ai có thể đánh giá tiểu thuyết nào hay hơn? Chắc chắn không phải tác giả của nó rồi.

Không ai có thể nhận ra một hacker, trừ phi làm việc với họ. Điều này dẫn đến một tình huống định mệnh: thật khó biết những anh hùng của chúng ta là ai. Tôi thường được đề nghị chỉ ra tên vài hacker, và tôi thường không biết phải trả lời thế nào. Những cái tên đầu tiên xuất hiện trong đầu là những người nổi tiếng, nhưng có vẻ như tất cả đều khập khiễng. Tôi nghĩ, tôi có thể kể ra vài cái tên như Richard Stallman, Linus Torvalds, hay Alan Kay, hoặc ai đó nổi tiếng. Nhưng tôi không biết họ là hacker giỏi vì tôi chưa từng làm việc với họ.

Nếu có một hacker Micheal Jordan, sẽ chẳng ai biết điều đó, kể cả anh ta.

Trau dồi

Cuối cùng là câu hỏi mà bất cứ hacker nào cũng từng trăn trở là “làm thể nào để trở thành một hacker“. Tôi không biết bạn có thể trở thành một hacker không? Những chắc chắn bạn có thể làm những điều khiến bạn trở thành ngu ngốc. Và một khi bạn có thể làm mình trở nên ngu ngốc thì bạn cũng có thể làm mình trở nên giỏi giang.

Chìa khóa để trở thành một hacker giỏilàm việc với những gì mình thích. Khi nghĩ về các hacker tôi biết, tôi nhận ra một điểm chung là cực khó để bắt họ làm những việc mà họ không thích. Tôi không biết đây là nhân hay quả. Có lẽ cả hai.

Những hacker giỏi nhất là những người thông minh, nhưng lĩnh vực nào chả thế. Nếu có điều gì đặc biệt ở hacker thì đó là trí tò mò. Các hacker thường rất tò mò về phương thức hoạt động của mọi việc. Một vài người bạn của tôi lại nói rằng hacker là những người có khả năng tập trung cao độ. Tôi cũng từng nghe một vài hacker nói rằng họ không thể suy nghĩ chỉ sau khi làm nửa vại bia. Hacking đòi hỏi sự tập trung cao độ. Các hacker có thể tưởng tượng một ngữ cảnh lớn trong đầu để khi nhìn vào dòng code, họ có thể tưởng tượng ra cả một chương trình lớn xung quanh đó. John McPhee nói rằng Bill Bradley thành công trong môn bóng rổ là nhờ khả năng thị giác đặc biệt của anh ta. Người bình thường có góc nhìn 47 độ. Còn Bill là 70 độ. Anh ta có thể nhìn thấy rổ ngay cả khi cắm mặt xuống sàn. Có thể một vài hacker cũng có những khả năng bẩm sinh tương tự chăng!

Bạn có thể trau dồi những kĩ năng này không? Tôi không chắc. Chỉ có một điều chắc chắn là bạn không thể kiềm chế nó. Tôi nghĩ nếu có cách nào đó giúp bạn trở thành hacker giỏi thì đó là bạn phải tuân thủ những điều sau: không bao giờ làm việc trong các dự án buồn tẻ (đối với bạn) và không bao giờ cho phép mình làm những công việc nửa vời. Những hacker giỏi tôi biết đều làm như vậy, mặc dù họ có thể có nhiều lựa chọn khác.

Tác giả: Paul Graham

 

Categories: sưu tầm

TeamViewer – Kết nối 2 máy tính qua mạng

Tháng Mười Hai 15, 2007 vuau 7 comments

Với TeamViewer (TV), bạn có thể dễ dàng truy cập vào máy của người khác để có thể thao tác trên đó như ngay trên máy của bạn. Với điều kiện máy của người đó cũng phải cài TV và họ cung cấp cho bạn IDPass. Chương trình kết nối rất dễ dàng và hoàn toàn miễn phí.

Đầu tiên bạn down TV về, chạy file cài đặt, chương trình có 2 chế độ cho bạn lựa chọn là:

  • Install TeamViewer : cài đặt vào máy
  • Start without installation :  chạy trực tiếp mà không cần cài đặt

Tiếp theo bạn sẽ được yêu cầu đặt Password, bạn gõ pass vào. Bạn phải nhớ để cung cấp cho người nào muốn truy cập vào máy bạn. Nếu bạn không đặt thì chương trình sẽ tạo pass ngẫu nhiên cho mỗi lần chạy chương trình.

Đánh dấu chọn vào Start TeamViewer automatically with Windows để TV tự khởi động với Win. Tùy chọn này rất hữu ít trong trường hợp bạn đang ở xa nhà, mà muốn kết nối vào máy ở nhà để làm 1 số việc, thì chỉ cần nhờ người nhà mở máy lên là bạn có thể làm mọi thứ với máy của mình. Tuy nhiên bạn sẽ phải nhớ số ID của bạn.

Sau khi cài đặt xong chương trình, bạn chạy TV. Tại màn hình đâu tiên của chương trình, bạn để ý mục IDPassword (Predefined tức là đã được định nghĩa từ trước) trong phần Wait Session. Đây chính là ID và Pass mà bạn sẽ cung cấp cho người cần truy cập.

Trường hợp bạn muốn truy cập vào máy người khác thì chỉ cần yêu cầu họ cung cấp cho Pass và ID rồi điền vào 2 khung tương ứng  trong phần Creat Session. Bạn có 3 chế độ:

  • Remote Support: bạn sẽ có thể làm gần như là mọi việc như làm trên chính máy của mình.
  • Presentation: bạn chỉ có thể thấy người bên kia làm mà không thể làm gì cả.
  • File Transfer: truyền dữ liệu giữa 2 máy.

Sau đó nhấn nút  Connect to partner là có thể kết nối được.

Ngoài ra, trong menu  Extras ~> Options còn có 1 số tùy chỉnh như sau:

  • Thẻ  General: gồm có những tùy chỉnh chung cho chương trình
  • Thẻ Remote Control: phần Quality

    • Automatic quality selection: chương trình tự điều chỉnh
    • Optimize speed: cải thiện tốc độ nhưng hình ảnh xấu
    • Optimize quality: tốc độ chậm nhưng đồ họa cao
    • Custom settings: tự bạn điều chỉnh
  • Thẻ Presentation: phần Quality tương tự như trên
  • Thẻ Security: những tùy chọn cho việc bảo mật như là chấp nhận truy cập, cho phép người kia khóa bàn phím và chuột,  ….
  • Thẻ Custom Invitation giúp bạn mời người khác sử dụng chương trình.

Chúc thành công !

Categories: mạng

Tiếng việt cho menu trong vb6

Tháng Mười Hai 13, 2007 vuau 1 comment

Việc tạo menu tiếng Việt phụ thuộc vào mã tiếng Việt nào được sử dụng:

 a. Nếu bạn dùng mã tiếng Việt nào khác, không phải là mã Unicode tiếng Việt, thì việc tạo menu tiếng Việt cho 1 form VB 6.0 khá đơn giản. Trong trường hợp này, qui trình tạo menu tiếng Việt cho Form VB 6.0 gồm 2 bước chính:
 - Thiết lập lại font chữ mà Windows sẽ dùng cho menu tương thích với mã tiếng Việt mà bạn dùng trong form. Việc thiết lập sơ đồ font chữ cho Windows có thể được thực hiện thủ công bằng cách vào Control Panel.Display.Appearance.Advanced. Bạn cũng có thể thiết lập động font chữ cho Windows dùng hiển thị menu bằng cách lập trình, chúng tôi đã trình bày đoạn code VB (và C++) thiết lập sơ đồ font hệ thống trong các số báo trước.
 - Sau khi đã thiết lập font chữ để hiển thị menu, bạn chạy VB 6.0, tạo (mở lại) Project, tạo (mở lại) form ứng dụng, rồi dùng chức năng Tools.Menu Editor để thiết kế trực quan menu cho Form. Sau khi thiết kế xong menu, bạn sẽ thấy menu trong form hiển thị đúng tiếng Việt.
 b. Trong trường hợp bạn dùng mã tiếng Việt Unicode thì qui trình tạo menu tiếng Việt sẽ khó khăn hơn nhiều, tốt nhất là dùng môi trường VB .Net thay vì VB 6.0 vì VB .Net hỗ trợ rất tốt mã Unicode. Trong trường hợp vẫn muốn dùng VB 6.0 thì bạn hãy theo qui trình tạo menu chứa chuỗi Unicode tiếng Việt như sau:
 1. Giả sử bạn cần tạo menu cho Form gồm 2 menu pop-up tên là “Tệp” và “Soạn thảo”. Menu “Tệp” có 4 option: Tạo mới, Mở, Lưu, Dừng chương trình. Menu “Soạn thảo” có 3 option: Cắt, Sao chép, Dán.
 2. Trong đoạn code tạo động menu tiếng Việt Unicode của chúng tôi dưới đây có gọi 2 hàm API Windows tên là MultiByteToWideChar() và ModifyMenuW(), nếu dùng phát biểu Declare của VB để khai báo các hàm API có tham số là chuỗi Unicode này thì khi gọi chúng hoạt động không đúng chức năng. Để có thể dùng đúng các hàm trên, ta phải xây dựng 1 thư viện kiểu (type library) chứa chúng để dùng trong ứng dụng. Bước 2 này sẽ miêu tả qui trình xây dựng thư viện kiểu cần dùng. Hãy dùng một trình soạn thảo văn bản soạn nội dung đặc tả thư viện TypeLib chứa hàm MultiByteToWideChar() và ModifyMenuW() bằng ngôn ngữ ODL như sau (cất nội dung lên file uniutil.odl):
 [
 uuid(13C9AF40-856A-101B-B9C2-04021C007002),
 helpstring("WIDE32 Windows API Type Library")
 ]
 library WideWin32API
 {
 [dllname("kernel32.dll")]
 module KernelAPI
 {
 [
 helpstring("Convert a UTF8 string to a UCS-2 string."),
 entry("MultiByteToWideChar")
 ]
 long _stdcall MultiByteToWideChar(
 [in] long CodePage,
 [in] long dwFlags,
 [in] BSTR lpMultiByteStr,
 [in] long cchMultiByte,
 [in] BSTR lpWideCharStr,
 [in] long cchWideChar);
 };
 [dllname("user32.dll")]
 module User32API
 { [
 helpstring("Modify a menu item."),
 entry("ModifyMenuW")
 ]
 long _stdcall ModifyMenuW(
 [in] long hMenu,
 [in] long uPosition,
 [in] long uFlags,
 [in] long uIDItem,
 [in] BSTR lpWideCharStr);
 };
 };
 3. Dịch file ODL ở trên thành file thư viện kiểu uniutil.tlb bằng tiện ích midl.exe. Để có tiện ích này, bạn có thể cài bộ Visual Studio 6.0, nếu cài ở chế độ Typical, bộ VS sẽ được cài vào thư mục “c:\Program Files\Microsoft Visual Studio”. Nếu vậy để dịch file uniutil.odl ở trên, bạn hãy tạo 1 cửa sổ Command Prompt, dùng lệnh cd để chuyển về thư mục chứa file uniutil.odl, rồi nhập tuần tự 2 lệnh sau để dịch nó:
 c:\progra~1\micros~2\vc98\bin\vcvars32.bat
 midl uniutil.odl
 Giả sử tên ngắn của thư mục “Program Files” là progra~1, của thư mục “Microsoft Visual Studio” là micros~3. Sau khi tiện ích midl.exe chạy xong, nó tạo ra file thư viện tên là uniutil.tlb, file thư viện này sẽ chứa 2 hàm API tên là MultiByteToWideChar() và ModifyMenuW() mà chúng ta sẽ dùng trong ứng dụng VB 6.0 dưới đây.
 4. Bạn chạy VB 6.0, tạo (hay mở lại) Project quản lý ứng dụng, tạo (hay mở) Form giao diện cần menu, chọn chức năng Tools.Menu Editor để thiết kế trực quan menu cho Form. Vì tiện ích Menu Editor của VB 6.0 không hỗ trợ tiếng Việt Unicode, nên bạn sẽ nhập vào các chuỗi không dấu.
 5. Dùng NotePad (hay trình soạn thảo văn bản có khả năng tương ứng) nhập các chuỗi tiếng Việt Unicode cần cho menu như Tệp, Tạo mới, Mở, Lưu, Dừng chương trình, Soạn thảo, Cắt, Sao chép, Dán… rồi lưu kết quả lên file theo cách mã hóa UTF8 (vì chỉ có cách này mới có thể dùng các chuỗi Unicode trong file mã nguồn VB 6.0).
 6. Quay lại cửa sổ VB 6.0 để tiếp tục viết ứng dụng. Chọn menu Project.References… để hiển thị cửa sổ References, ấn button Browse rồi duyệt hệ thống file để chọn file uniutil.tlb vừa tạo ở bước 3 để thêm nó vào Project.
 7. Chọn menu View.Code để hiển thị cửa sổ soạn code cho form rồi nhập đoạn chương trình sau:
 Option Explicit
 ’khai báo các hàm API Windows cần dùng
 Private Declare Function GetMenu Lib “user32″ (ByVal hwnd As Long) As Long
 Private Declare Function GetSubMenu Lib “user32″ (ByVal hMenu As Long, ByVal nPos As Long) As Long
 
 ’khai báo các hằng cần dùng
 Const MF_BYPOSITION = &H400&
 Const MF_STRING = &H0
 Const CP_UTF8 = 65001
 ’Viết thêm code cho hàm Form_Load
 Private Sub Form_Load()
 Dim hMenu As Long
 Dim hSubMenu As Long
 hMenu = GetMenu(Me.hwnd)
 ’hiệu chỉnh caption cho menu Tệp
 ModifyItem hMenu, 0, 0, “T»‡p”
 ’hiệu chỉnh caption cho menu Soạn thảo
 ModifyItem hMenu, 1, 0, “Sóº¡n thº£o”
 hSubMenu = GetSubMenu(hMenu, 0)
 ’hiệu chỉnh caption cho các option của menu Tệp
 ModifyItem hSubMenu, 0, 0, “Tº¡o m»›i”
 ModifyItem hSubMenu, 1, 0, “M»Ÿ”
 ModifyItem hSubMenu, 2, 0, “L°u”
 ModifyItem hSubMenu, 4, 0, “D»«ng ch°¡ng tr¬nh”
 hSubMenu = GetSubMenu(hMenu, 1)
 ’hiệu chỉnh caption cho các option của menu Soạn thảo
 ModifyItem hSubMenu, 0, 0, “Cº¯t”
 ModifyItem hSubMenu, 1, 0, “Sao ch©p”
 ModifyItem hSubMenu, 2, 0, “D¡n”
 ’đoạn code thực hiện các chức năng còn lại của form
 End Sub
 ’thủ tục thay đổi caption của 1 option menu
 Sub ModifyItem(hMenu As Long, pos As Integer, hItem As Long, caption As String)
 Dim ret As Long
 Dim x() As Byte
 Dim ustr As String
 ’chuyển chuỗi caption từ 2 byte về dạng 1 byte
 x = StrConv(caption, vbFromUnicode)
 ’phân phối vùng nhớ chứa chuỗi caption theo dạng UCS-2
 ret = MultiByteToWideChar(CP_UTF8, 0, x, -1, ustr, 0)
 ustr = Space(ret)
 ’chuyển chuỗi caption về dạng Unicode UCS-2
 ret = MultiByteToWideChar(CP_UTF8, 0, x, -1, ustr, ret)
 ’hiệu chỉnh caption của menu option tương ứng
 ModifyMenuW hMenu, pos, MF_BYPOSITION Or MF_STRING, hItem, ustr
 End Sub
 
 Khi chạy form hiển thị như sau (các chuỗi Unicode đều hiển thị đúng):
 Xin hỏi ngôn ngữ lập trình nào tạo file *.exe.
 Các ngôn ngữ lập trình mà con người dùng để miêu tả chương trình thường là ngôn ngữ cấp cao, thí dụ như Java, VB, C++, C#,… Các ngôn ngữ cấp cao này khá thân thiện với người, tuy nhiên CPU của máy tính không hiểu và thực thi được các chương trình viết bằng ngôn ngữ cấp cao này. Để khắc phục nhược điểm này, người ta xây dựng các chương trình dịch, nhiệm vụ của chương trình dịch là dịch chương trình từ ngôn ngữ cấp cao (mã nguồn) sang chương trình có chức năng tương đương nhưng được viết bằng ngôn ngữ máy để máy có thể hiểu và thực thi được. Trên DOS và Windows, file *.exe là file chứa chương trình ngôn ngữ máy mà chương trình dịch tạo ra. Tóm lại, con người không tạo trực tiếp file *.exe, con người chỉ viết chương trình bằng ngôn ngữ cấp cao, rồi nhờ chương trình dịch dịch ra file *.exe để chạy

Categories: lập trình

Căn bản về CC

Tháng Mười Hai 13, 2007 vuau 3 comments

Trong thời gian qua, tại một số Forum, chúng ta thường nghe nói và bàn luân nhiều đến vấn đề Credit Card. Tôi cũng có theo dõi và cũng có tìm hiểu nghiên cứu chút ít về nó, hy vọng những gì tôi trình bày bên dưới sẽ giúp cho các bạn hiểu được vấn đề này rõ ràng hơn.
Hôm nay tôi xin “mạn phép” được trình bày một hiểu biết của tôi về vấn đề Credit Card.

Bài viết này chỉ có mục đích tham khảo, tăng thêm sự hiểu biết cũng như tính bảo mật của Card, do vậy chúng tôi hoàn toàn không chịu trách nhiệm trước pháp luật cũng như những ai cố tình sủ dụng bài viết cho mục đích khác, làm gây nguy hại đến vật chất và tài sản của người khác. Read more…

Categories: Cơ bản

sql injection

Tháng Mười Hai 11, 2007 vuau 1 comment

Hầu hết các chương trình ứng dụng web mới đều dựa trên cấu trúc dữ liệu động để để đạt được tính hấp dẫn của các chương trình desktop cổ điển. Cơ chế động này đạt được bằng cách thu thập dữ liệu từ 1 database. Một trong những nền database phổ biến hơn cả trong các ứng dụng e-shop là SQL. Rất nhiều các ứng dụng web chỉ dựa hoàn toàn vào những scripts ở đầu vào ( phía người dùng – client ), những đoạn scripts này chỉ đơn giản là truy vấn 1 SQL database nằm ở ngay trên webserver hay nằm trên 1 hệ thống đầu cuối ( phía server ) riêng biệt. Một trong những cách tấn công khó bị nhận thấy và nguy hiểm nhất lên 1 ứng dụng web bao gồm việc chiếm đoạt những chuỗi truy vấn được dùng bởi các scripts, để đoạt quyền điểu khiển ứng dụng đó hoặc các dữ liệu của nó. Một trong những cơ chế hiệu quả nhất để đạt được điều đó là một kỹ thuật gọi là SQL injection ( kỹ thuật chèn những câu lệnh SQL ) Read more…

Categories: Cơ bản

Hack cc

Tháng Mười Hai 11, 2007 vuau 2 comments

Những ai mới tập hack đều chơi VP ASP trước , shop dạng này bây giờ tuy khó mà kiếm được hàng ngon nhưng anh em cứ thực hành để tích lũy kinh nghiệm. Hơn nữa cấu trúc DB của VP ASP ta biết rõ , việc truy vẫn sẽ dễ dàng hơn.

Ok , nói về VP ASP trước nhá (Châm điếu thuốc cái đã…hehehe) Read more…

Categories: Cơ bản

Chữa bệnh từ xa

Tháng Mười Hai 10, 2007 vuau Phản hồi đã bị khóa

Với những người dùng thích “chọc ngoáy” máy tính, việc tải về và cài đặt bất cứ thứ gì từ Internet dễ làm máy tính “đổ bệnh”. Việc chuẩn đoán nguyên nhân để tìm cách khắc phục sẽ khó khăn hơn nếu không có điều kiện thao tác trực tiếp trên máy tính. May thay, một số tiện ích (miễn phí lẫn có phí) chẳng hạn như UltraVNC (find.pcworld.com/58191) giúp bạn khắc phục sự cố từ xa. Lưu ý: phải đảm bảo máy tính đang hoạt động và vẫn đăng nhập vào HĐH được. Bạn có thể cài đặt và sử dụng phần mềm UltraVNC bằng nhiều cách khác nhau. Cách đơn giản nhất để giản lược các thao tác (nếu người dùng không rành máy tính) là thiết lập mọi thứ trên máy tính của mình (máy khách) và gửi 1 applet nhỏ đến máy máy tính hỏng (máy chủ) qua email. Người dùng chỉ việc kích hoạt applet, kết nối sẽ tự động thiết lập.

Tải về và cài đặt phần mềm UltraVNC trên máy khách. Chọn Start. Programs. UltraVNC. UltraVNC Viewer. Run UltraVNC Viewer (Listen Mode) để khởi chạy tiện ích (biểu tượng kết nối nằm ở khay hệ thống). Nếu sử dụng kết nối Internet qua router, kiểm tra và mở port này (mặc định UltraVNC sử dụng port 5500 để thiết lập kết nối giữa các máy tính).

Xác định địa chỉ IP máy khách

Bước tiếp theo, bạn cần cài đặt thông số kết nối. Tải về tập tin custom.zip tại find.pcworld.com/58193 và giải nén. Mở tập tin helpdesk.txt, tìm đến các dòng [HOST], thay thế địa chỉ IP có sẵn (192.168.1.102) bằng địa chỉ IP máy bạn. Nếu sử dụng routerless, truy cập website www.whatismyipaddress.com và xem thông tin hiển thị bên dưới. Trong trường hợp máy tính sử dụng IP động (dynamic IP address), sử dụng tiện ích miễn phí DynDNS tại find.pcworld.com/58194 nếu cần tạo địa chỉ IP tĩnh. Bạn phải chạy lại tiện ích của dịch vụ để cập nhật mỗi khi địa chỉ IP thay đổi. Nếu không sử dụng DynDNS, bạn có thể chỉnh sửa và đóng gói lại tập tin helpdesk.txt mỗi khi thay đổi.

Gửi applet cho máy chủ

Lưu tập tin helpdesk.txt vào thư mục nén custom.zip. Trong giao diện web của UltraVNC SC (find.pcworld.com/58195), đăng nhập với tài khoản “foo”, mật khẩu “foobar”. Chọn Browse, cung cấp đường dẫn đến tập tin custom.zip và nhấn Upload. Tải về tập tin đã đóng gói custom.exe ở cửa sổ tiếp theo. Máy chủ sẽ sử dụng tập tin này để thiết lập kết nối đến máy khác. Gửi tập tin custom.exe qua email (nhớ đổi tên hoặc nén lại) hoặc đưa nó lên bất kỳ website lưu trữ trực tuyến nào, cung cấp đường dẫn cho người dùng tải về. Chạy tập tin này trên máy chủ bằng một vài thao tác đơn giản để thiết lập kết nối. Ở máy khách xuất hiện hộp thoại cho biết đang có 1 kết nối tới. Chấp nhận kết nối và giao diện màn hình máy chủ sẽ hiển thị, sẵn sàng để bạn khắc phục xự cố.

Categories: mạng

1 số web site về hack crack của việt nam và thế giới

Tháng Mười Hai 8, 2007 vuau 1 comment

Các WebSite về Security,Hack,CRAK,Tin học của VN và thế giới


——————————————————————————–

Hacker nước ngoài:
http://www.stoned-crackers.com/
http://www.b4p4k.tk
http://www.hackernetwork.de
http://www.thenewbiesarea.com
http://www.ultraseek.net
http://cracks.ru
www.lomalka.ru
http://nnm.cracks.ru Read more…

Categories: kinh nghiệm